Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Thực trạng việc tổ chức thực hiện các đoàn thanh tra hành chính theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Thanh tra

Căn cứ vào khái niệm và quy định nội dung của hoạt động thanh tra hành chính của Luật Thanh tra: “Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao”, hàng năm Bộ Tư pháp đều ban hành Kế hoạch thanh tra, trong đó có các cuộc thanh tra hành chính đối với các đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Về đối tượng thanh tra hành chính: Theo quy định của Luật Thanh tra thì đối tượng thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, đối tượng thanh tra hành chính của Bộ Tư pháp là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc quản lý của Bộ Tư pháp. Căn cứ vào Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì đối tượng thanh tra hành chính gồm các đơn vị sau: 10 vụ, 11 Cục, 01 Tổng cục và 12 đơn vị sự nghiệp. Trong đó hệ thống các cơ quan thi hành án từ trung ương đến địa phương (gồm 01 tổng cục, 63 Cục và cục) là chiếm số đông biên chế của Ngành Tư pháp. Do đó, đối tượng thanh tra hành chính chủ yếu tập trung vào các Cục Thi hành án dân sự và các Chi cục THADS địa phương.

Về nội dung thanh tra hành chính: Xuất phát từ đối tượng thanh tra hành chính của Bộ Tư pháp tập trung chủ yếu là các cơ quan thi hành án do đó mà nội dung thanh tra hành chính của Bộ Tư pháp tập trung vào việc thực hiện các quy định của pháp luật về:

+ Công tác tổ chức cán bộ;

+ Việc sử dụng ngân sách nhà nước;

+ Công tác đầu tư xây dựng cơ bản;

+ Việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

+ Trách nhiệm thực hiện các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ;

+ Nghiệp vụ tổ chức thi hành án dân sự;

+ Công tác quản lý, đào tạo tại các đơn vị Đào tạo của Bộ Tư pháp.  

Về nội dung thanh tra hành chính, Bộ Tư pháp đề xuất xây dựng kế hoạch thanh tra có các nội dung thanh tra theo định hướng chung của Thanh tra Chính phủ và phù hợp với từng giai đoạn nhiệm vụ của Ngành Tư pháp. Những năm trước đây, Thanh tra Bộ tập trung vào nội dung thanh tra nghiệp vụ tổ chức thi hành án dân sự. Kể từ năm 2015 đến nay, Bộ Tư pháp tập trung thanh tra công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự. Đồng thời tiến hành các nội dung thanh tra về việc sử dụng ngân sách nhà nước; Công tác đầu tư xây dựng cơ bản; Việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng; Trách nhiệm thực hiện các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ; Công tác quản lý, đào tạo tại các đơn vị Đào tạo của Bộ Tư pháp.  

Từ tháng 01/7/2011 đến tháng 6/2017, Bộ Tư pháp đã tổ chức thực hiện 68 cuộc Thanh tra hành chính theo kế hoạch. Công tác thanh tra hành chính được thực hiện ngày càng đi vào chiều sâu, có hiệu quả. Việc tổ chức các đoàn thanh tra được thực hiện đúng mục đích của hoạt động thanh tra, đó là nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đồng thời, các cuộc thanh tra bảo đảm đúng nguyên tắc hoạt động thanh tra là tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời cũng như không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.

Trên cơ sở các kết luận thanh tra đã ban hành cho thấy thực trạng một số cơ quan thi hành án dân sự địa phương có tình trạng thực hiện không đúng quy định của pháp luật hoặc vi phạm quy định của pháp luật. Do đó, trong 06 năm qua, Chánh Thanh tra đã ban hành các quyết định thu hồi số tiền vi phạm với tổng số tiền là 2.053.825.318 đồng về cho ngân sách nhà nước.

Tất cả các cá nhân có sai phạm được nêu trong Kết luận thanh tra đều bị kiến nghị xử lý tương xứng với hành vi vi phạm, trong đó có cả các đồng chí giữ vị trí là Cục trưởng và Chi cục trưởng. Bên cạnh đó, cho đến thời điểm này chưa có vụ việc được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra hành chính phải chuyển cơ quan điều tra cùng cấp.

Nếu như các năm trước đây, công tác thanh tra hành chính trong việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương chưa được tiến hành thường xuyên thì từ năm 2015, Bộ Tư pháp đã chú trọng và đẩy mạnh công tác thanh tra trong lĩnh vực này tại các cơ quan thi hành án dân sự nhằm kịp thời phát hiện tiêu cực, vi phạm, tham nhũng để xử lý, kiến nghị xử lý đối với các sai phạm của các cá nhân tại cơ quan thi hành án dân sự các cấp.

1. Thực trạng việc tổ chức thực hiện các đoàn thanh tra theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Thanh tra

1.1. Việc chuẩn bị kế hoạch thực hiện các đoàn thanh tra hành chính

- Lựa chọn Trưởng đoàn thanh tra theo đúng tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 05/2014/TT-TTCP là trưởng phòng hoặc Thanh tra viên chính và lựa chọn người tham gia Đoàn Thanh tra có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của cuộc thanh tra theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 05/2014/TT-TTCP.

- Chuẩn bị thanh tra theo đúng quy trình từ khâu cử công chức của Phòng thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình từ đó nhận định những vấn đề nổi cọm, có dấu giệu sai phạm, đề xuất nội dung thanh tra và phương pháp tiến hành thanh tra để tham mưu Chánh thanh tra ban hành quyết định thanh tra.

- Trưởng đoàn thanh tra hành chính có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra trình Chánh Thanh tra phê duyệt theo quy định; tổ chức họp để phổ biến kế hoạch cho thành viên Đoàn thanh tra; xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo và thông báo về việc công bố quyết định thanh tra.

Có thể nói trong 06 năm qua, công tác thanh tra hành chính tại Bộ Tư pháp về cơ bản được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm bám sát các quy định về trình tự, thủ tục chuẩn bị tiến hành một cuộc thanh tra hành chính một cách công khai, dân chủ, chủ động tự hướng dẫn, phổ biến các văn bản hướng dẫn mới được ban hành thuộc lĩnh vực chuẩn bị thực hiện thanh tra cho các thành viên tham gia đoàn thanh tra, giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các thành viên tham gia đoàn, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về nhận thức pháp luật. Do đó, chất lượng các đoàn thanh tra nói riêng ngày càng có chuyển biến rõ rệt, đáp ứng được đúng mục đích của cuộc thanh tra hành chính theo lĩnh vực. Chất lượng về trình độ hiểu biết, tư duy pháp luật của công chức làm công tác thanh tra nói chung vì thế mà ngày càng thể hiện sự đồng đều, đáp ứng tốt nhu cầu gắt gao về chuyên môn.

1.2. Về nội dung thanh tra hành chính

Công tác thanh tra hành chính hàng năm được tổ chức thực hiện sau khi kế hoạch thanh tra đối với từng lĩnh vực đã được xây dựng, nội dung thực hiện một cách chi tiết, chuyên môn và bài bản, đề ra lộ trình và tiến độ cụ thể để thực hiện. Các đoàn thanh tra hành chính tập trung chủ yếu vào xem xét, xác minh các nội dung đối với từng lĩnh vực, cụ thể như sau:

(1). Nội dung thanh tra hành chính trong lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ, bao gồm: tập trung xem xét, xác minh công tác tuyển dụng; đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; điều động; bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm công chức, viên chức; khen thưởng, kỷ luật công chức, viên chức; đánh giá công chức, viên chức; việc phân bổ Chấp hành viên tại địa phương nơi tiến hành thanh tra.

(2). Về sử dụng ngân sách: tập trung xem xét, xác minh việc lập dự toán; quyết toán ngân sách; việc sử dụng kinh phí; việc chấp hành chế độ báo cáo tài chính; việc lập, quản lý sổ sách, chứng từ kế toán và các việc liên quan đến công tác thu, chi quản lý kinh phí; việc phê duyệt, quyết toán nguồn kinh phí hành chính sự nghiệp; việc quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý, sử dụng đất đai; việc quản lý, phân bổ, sử dụng các khoản hỗ trợ khác.

(3). Nội dung thanh tra hành chính trong việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng: tập trung vào xem xét, xác minh việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch phòng, chống tham nhũng; việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; tuyên truyền các Chương trình, Kế hoạch phòng, chống tham nhũng của Bộ Tư pháp trong cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị được thanh tra; việc công khai, minh bạch hoạt động tài chính - ngân sách, mua sắm tài sản công, xây dựng cơ bản và quản lý dự án đầu tư xây dựng, việc quản lý và sử dụng đất đai; công khai, minh bạch hoạt động giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; công khai, minh bạch trong công tác tổ chức, cán bộ; việc thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; việc xây dựng, thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; việc thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp; chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên; việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công nghệ quản lý; và việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng.

(4). Nội dung thanh tra hành chính về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ: tập trung xem xét, xác minh đối với việc tiếp công dân và phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; việc xem xét, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự; và việc chấp hành các Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận nội dung tố cáo về thi hành án dân sự của cấp trên (nếu có) và công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận nội dung tố cáo theo thẩm quyền (nếu có).           

(5). Nội dung thanh tra hành chính trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản: tập trung vào việc xem xét, xác minh trình tự, thủ tục đầu tư; ký kết hợp đồng; quản lý dự án, giám sát, thi công công trình; chất lượng công trình; thanh toán, quyết toán; bảo hành, bảo dưỡng công trình; khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc xây dựng công trình.

(6). Nội dung thanh tra nghiệp vụ thi hành án: việc tiếp nhận và thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, việc ra quyết định thi hành án; xác minh điều kiện thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; phân loại điều kiện; xử lý tang tài vật; chi trả thi hành án...

1.3. Việc tổ chức thực hiện các đoàn thanh tra

- Trưởng đoàn thanh tra hành chính tổ chức công bố quyết định thanh tra chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định thanh tra. Theo đó, buổi công bố gồm đầy đủ thành phần tham dự theo đúng quy định; Trưởng đoàn thanh tra chủ trì buổi công bố quyết định thanh tra; thông qua chương trình làm việc; đọc toàn văn quyết định thanh tra; nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời hạn cuộc thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra; quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra; dự kiến kế hoạch làm việc của Đoàn thanh tra; mối quan hệ công tác giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra; các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra. Đồng thời, Thủ trưởng cơ quan là đối tượng thanh tra báo cáo về những nội dung thanh tra theo đề cương Đoàn thanh tra đã yêu cầu; các thành viên khác tham dự buổi công bố quyết định thanh tra phát biểu ý kiến liên quan đến nội dung thanh tra (nếu có) và việc công bố quyết định thanh tra được lập thành biên bản theo Mẫu số 06-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP.

- Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn và thành viên đoàn yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra, từ đó, kiểm tra, xác minh thông tin tài liệu đã thu thập được để làm rõ nội dung thanh tra; đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra được phân công; yêu cầu người có trách nhiệm, người có liên quan giải trình về những vấn đề chưa rõ và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ khác để thực hiện nhiệm vụ.

- Kết thúc việc kiểm tra, xác minh nội dung cần thanh tra, kết quả được lập thanh biên bản làm việc thực hiện theo Mẫu số 12-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP.

- Trong quá trình thanh tra, các thành viên đoàn có trách nhiệm báo cáo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ cho Trưởng đoàn thanh tra; Trưởng đoàn có trách nhiệm báo cáo cho Chánh Thanh tra xem xét, có ý kiến chỉ đạo cụ thể, trực tiếp về báo cáo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, xử lý kịp thời kiến nghị của Trưởng đoàn thanh tra.

Trong 06 năm qua, việc phải kéo dài thời gian thanh tra hành chính hay chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hầu như chưa thực hiện. Quy trình thanh tra chặt chẽ, bảo đảm bí mật của đoàn thanh tra và chế độ thông tin hai chiều đã giúp cho Đoàn Thanh tra thực hiện nhiệm vụ đúng tiến độ, kịp thời thực hiện các chỉ đạo của cấp trên, nắm bắt thông tin từ đối tượng thanh tra; dân chủ giữa các thành viên của đoàn thanh tra trong việc nghiên cứu độc lập; không phát sinh tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu của các thành viên đoàn thanh tra đối với cá nhân, đơn vị được thanh tra.

- Kết thúc thanh tra, Đoàn thanh tra báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ theo hướng kết luận rõ đúng, sai về từng nội dung đã được kiểm tra, xác minh, nêu rõ hành vi tham nhũng phát hiện qua thanh tra (nếu có); chỉ rõ quy định của pháp luật làm căn cứ để kết luận đúng, sai; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; kiến nghị, đề xuất việc xử lý đối với cá nhân, đơn vị có hành vi vi phạm pháp luật; kiến nghị khắc phục sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật; chỉ rõ quy định của pháp luật, cơ sở thực tiễn của những kiến nghị, đề xuất. Từ báo cáo đó, Đoàn thanh tra xây dựng dự thảo kết luận trình Chánh Thanh tra xem xét, quyết định đối với các sai phạm đã chỉ ra theo quy định của pháp luật.

1.4. Việc thực hiện công khai kết luận thanh tra

Việc công khai kết luận thanh tra hành chính được thực hiện đúng quy định của Pháp luật, cụ thể, người ra Quyết định thanh tra trực tiếp hoặc ủy quyền cho cấp phó thực hiện việc công bố Kết luận thanh tra. Buổi công bố có đầy đủ thành phần tham dự theo quy định và được thực hiện công khai, minh bạch, lập thành Biên bản. Thông tin về buổi công bố Kết luận thanh tra được đưa lên trang thông tin điện tử của cơ quan thanh tra nhà nước; Cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong 06 năm thi hành Luật Thanh tra, công tác thanh tra hành chính tại Bộ Tư pháp không xảy ra vi phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thanh tra, đặc biệt, không có công chức vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra như hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra; thanh tra không đúng thẩm quyền, phạm vi, nội dung thanh tra được giao; cố ý không ra quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; kết luận sai sự thật; quyết định, xử lý trái pháp luật; bao che cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; tiết lộ thông tin, tài liệu về nội dung thanh tra trong quá trình thanh tra khi chưa có kết luận chính thức; cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực; chiếm đoạt, tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra; chống đối, cản trở, mua chuộc, đe dọa, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra, người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan thanh tra nhà nước; gây khó khăn cho hoạt động thanh tra; can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ thanh tra; đưa, nhận, môi giới hối lộ và các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: Chi đoàn Thanh tra Bộ

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Thanh tra năm 2010;

  2. Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014;

  3. Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (Chương trình chuyên viên chính) Phần II – Học viện Hành chính quốc gia. NXB Khoa học và kỹ thuật năm 2013;

  4. Tài liệu bồi dưỡng Thanh tra viên chính, Trường đào tạo cán bộ thanh tra năm 2013;

  5. Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 01/12/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra​​​.

Thực trạng việc tổ chức thực hiện các đoàn thanh tra hành chính theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Thanh tra

Tác giả Chi đoàn Thanh tra Bộ
Tạp chí thanhtra.moj.gov.vn
Năm xuất bản 2017
Tham khảo

Tiếng Việt

Bạn vui lòng đăng nhập để download tài liệu, việc đăng ký hoàn toàn miễn phí và chỉ nhằm quản lý và hỗ trợ người dùng trên hệ thống. Xin cám ơn.

English

Bạn vui lòng đăng nhập để download tài liệu, việc đăng ký hoàn toàn miễn phí và chỉ nhằm quản lý và hỗ trợ người dùng trên hệ thống. Xin cám ơn.
Nếu bạn thấy văn bản này có dấu hiệu vi phạm, vui lòng gửi thông báo cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ xem xét và xử lý văn bản này trong thời gian sớm nhất.

VĂN BẢN CÙNG CHỦ ĐỀ