Hàng thừa kế thứ nhất là cụm từ mà hầu hết mọi người chỉ tra cứu khi trong nhà vừa có người mất và không để lại di chúc. Lúc đó câu hỏi thực tế rất cụ thể: con riêng có được chia không, con nuôi có ngang con đẻ không, vợ đã ly hôn nhiều năm trước còn phần nào không. Bài viết này giải thích thứ tự các hàng thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2015 bằng ngôn ngữ thường ngày, kèm những tình huống hay gây tranh chấp nhất khi ra phòng công chứng.
Mục lục
Hàng thừa kế thứ nhất là gì và khi nào mới dùng đến
Khi một người mất mà không có di chúc, tài sản của họ không tự động thuộc về người sống chung hay người đứng tên giấy tờ. Pháp luật xếp những người thân của người mất thành ba nhóm theo mức độ gần gũi, gọi là ba hàng thừa kế. Nhóm gần nhất được chia trước, và chỉ khi nhóm đó không còn ai thì mới xét tới nhóm sau.
Nói đơn giản, hàng thừa kế thứ nhất là vòng người thân trong cùng của người đã mất: vợ hoặc chồng, cha mẹ, và con. Đây là những người mà luật mặc định có quan hệ nuôi dưỡng, gắn bó trực tiếp với người để lại tài sản.
Chỉ chia theo hàng khi không có di chúc hợp lệ

Việc chia theo hàng thừa kế thứ nhất chỉ đặt ra trong trường hợp thừa kế theo pháp luật. Điển hình là khi người mất không lập di chúc, di chúc bị xác định không hợp pháp, hoặc di chúc chỉ định đoạt một phần di sản nên phần còn lại phải chia theo luật.
Nếu có di chúc hợp pháp thì di chúc được ưu tiên. Dù vậy, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 vẫn bảo vệ một nhóm người ngay cả khi họ bị bỏ ra khỏi di chúc, gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Đây là chi tiết rất nhiều bài viết bỏ qua.
Mỗi người trong cùng một hàng hưởng phần bằng nhau
Trong cùng một hàng, các kỷ phần bằng nhau. Con trai không hơn con gái, con út không kém con trưởng, người ở xa không thua người trực tiếp chăm sóc cha mẹ.
Điều này thường gây bức xúc trên thực tế. Người con ở lại phụng dưỡng cha mẹ hàng chục năm vẫn chỉ được một phần như những người khác, trừ khi các đồng thừa kế tự thỏa thuận khác hoặc người mất đã lập di chúc.
Ba hàng thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2015

Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ ba hàng. Bảng dưới đây gom lại để bạn đối chiếu nhanh trường hợp của gia đình mình.
| Hàng | Những người được xếp vào | Ghi chú thực tế |
|---|---|---|
| Hàng thứ nhất | Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết | Con nuôi và cha mẹ nuôi ngang hàng với con đẻ, cha mẹ đẻ nếu việc nuôi con nuôi đã được đăng ký hợp pháp |
| Hàng thứ hai | Ông bà nội, ông bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cháu ruột mà người chết là ông bà nội, ông bà ngoại | Anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha vẫn là anh chị em ruột theo cách hiểu này |
| Hàng thứ ba | Cụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột; chắt ruột; cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì ruột | Hàng này rất ít khi được dùng, thường chỉ xuất hiện ở các vụ di sản không còn người thân gần |
Điểm cần nhớ khi đọc bảng: quan hệ được tính theo huyết thống hoặc theo quan hệ nuôi dưỡng được pháp luật công nhận, không tính theo việc ai sống chung với ai. Người con dâu, con rể, hay người sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đều không nằm trong hàng nào cả.
Hàng sau chỉ hưởng khi hàng trước không còn ai

Nguyên tắc này rất chặt. Những người ở hàng sau chỉ được hưởng nếu hàng trước không còn ai, cụ thể là không còn ai còn sống, hoặc tất cả đều bị mất quyền hưởng di sản, bị người mất tước quyền qua di chúc, hoặc từ chối nhận di sản.
Vì vậy, chỉ cần còn một người trong hàng thừa kế thứ nhất, người đó nhận toàn bộ di sản và hàng thứ hai không có phần nào. Anh chị em ruột của người mất thường bất ngờ ở chỗ này, nhất là khi họ mới là người lo hậu sự và chăm sóc người bệnh trong những năm cuối.
Cháu vẫn có thể hưởng qua thừa kế thế vị
Có một cửa khiến cháu được chia dù họ không thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, nếu con của người mất chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người mất, thì cháu được hưởng phần mà cha hoặc mẹ mình đáng lẽ được hưởng. Đây là thừa kế thế vị.
Cần phân biệt rõ: thế vị là thay chỗ của cha mẹ đã mất, chứ không phải cháu tự nhiên được xếp lên hàng đầu. Nếu người con đó còn sống vào thời điểm mở thừa kế, cháu không có quyền gì.
Bốn tình huống hay tranh chấp nhất trong hàng thừa kế thứ nhất
Con nuôi và cha mẹ nuôi
Con nuôi được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất với điều kiện việc nhận nuôi đã được đăng ký theo pháp luật về nuôi con nuôi. Nuôi dưỡng thực tế nhiều năm, gọi nhau là bố con, nhưng không có quyết định công nhận nuôi con nuôi thì rất khó chứng minh khi ra tranh chấp.
Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015 còn nêu một điểm ít người biết: con nuôi vừa được thừa kế của cha nuôi, mẹ nuôi, vừa được thừa kế của cha đẻ, mẹ đẻ. Việc cho con đi làm con nuôi người khác không cắt quan hệ thừa kế với cha mẹ ruột.
Con riêng với bố dượng, mẹ kế
Đây là ca vướng nhiều nhất trong các gia đình tái hôn. Con riêng của vợ hoặc của chồng không tự động thừa kế của bố dượng, mẹ kế chỉ vì cùng sống một nhà.
Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra điều kiện: nếu con riêng và bố dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế của nhau. Tòa án sẽ xem xét bằng chứng thực tế như hộ khẩu chung, chi phí học tập, quá trình chăm sóc khi ốm đau. Nếu chỉ ở cùng nhà một thời gian ngắn, khả năng được công nhận là thấp.
Ngược lại, con riêng luôn thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với chính cha đẻ hoặc mẹ đẻ của mình, kể cả khi cha mẹ đã ly hôn và không sống cùng. Chi tiết này thường bị người vợ hoặc chồng sau bỏ sót khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Vợ chồng đã ly hôn hoặc đang trong quá trình ly hôn
Đã có bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng chấm dứt, người vợ hoặc chồng cũ không còn nằm trong hàng thừa kế thứ nhất. Sống chung lại sau ly hôn mà không đăng ký kết hôn lại cũng không phục hồi quyền này.
Trường hợp đang xin ly hôn thì khác. Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người vợ hoặc chồng vẫn được thừa kế nếu người kia chết trước khi bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Điều 655 cũng nêu trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung khi còn hôn nhân, khi đó quyền thừa kế của người còn sống vẫn được giữ.
Người bị mất quyền hưởng di sản
Thuộc hàng thừa kế thứ nhất không có nghĩa là chắc chắn được chia. Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 loại trừ một số trường hợp, trong đó có người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản, hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Người cha bỏ rơi con, không cấp dưỡng, nhiều năm sau quay về đòi chia phần của con là tình huống hay được nhắc tới ở nhóm này. Tuy nhiên đây không phải kết luận tự động, phải có căn cứ chứng minh và do tòa án đánh giá.
Làm sai thứ tự thừa kế thì hậu quả tới đâu
Sai sót phổ biến nhất là bỏ sót một đồng thừa kế khi làm văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản. Người bị bỏ sót có quyền khởi kiện, và giao dịch chuyển nhượng phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên có thể bị tuyên vô hiệu.
Rắc rối là bên mua thường mất tiền và mất thời gian nhiều nhất, dù họ không liên quan gì tới việc chia di sản. Vì thế công chứng viên thường yêu cầu rất kỹ giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của tất cả người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Trước khi ký bất cứ văn bản phân chia nào, hãy liệt kê ra giấy toàn bộ người có khả năng thuộc hàng thừa kế thứ nhất, gồm cả con riêng, con nuôi và người con đã mất có để lại cháu. Bỏ sót một người là đủ để giao dịch bị treo nhiều năm.
Một yếu tố nữa cần tính là thời hiệu thừa kế. Bộ luật Dân sự 2015 giới hạn thời gian yêu cầu chia di sản, dài hơn với bất động sản và ngắn hơn với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Quá thời hiệu, việc đòi chia trở nên phức tạp hơn nhiều, nên đừng để hồ sơ nằm im vì nghĩ chuyện nhà cứ để từ từ giải quyết.
Bạn có thể tự làm hồ sơ nếu các bên đồng thuận, quan hệ nhân thân rõ ràng và di sản không có tranh chấp. Còn khi có con nuôi không giấy tờ, con riêng, người thừa kế ở nước ngoài, hoặc chỉ cần một người không chịu ký, nên nhờ luật sư hoặc công chứng viên xử lý ngay từ đầu thay vì chờ tới lúc ra tòa khám phá thêm tại trang chủ.
Kết luận
Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người mất, mỗi người một phần bằng nhau, và chỉ khi hàng này không còn ai thì hàng thứ hai mới được xét tới. Những điểm dễ vướng nhất không nằm ở danh sách mà ở khâu chứng minh: giấy tờ nhận con nuôi, bằng chứng nuôi dưỡng giữa con riêng với bố dượng mẹ kế, thời điểm bản án ly hôn có hiệu lực. Quy định về thừa kế có thể được sửa đổi hoặc hướng dẫn lại theo văn bản mới, nên trước khi ký hồ sơ bạn hãy đối chiếu điều luật đang có hiệu lực hoặc hỏi trực tiếp tổ chức hành nghề công chứng nơi có di sản.


TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Chi tiết Luật Công chứng 2014 hiện hành và văn bản hướng dẫn
⚠️ Lưu ý về hiệu lực: Luật Công chứng 2014 đã hết hiệu lực từ ngày 01/7/2025, được thay...
Giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa là gì?
Hiện nay có rất nhiều loại hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ trên thị trường, vậy căn cứ vào...
MẪU – ĐƠN XIN TỪ NHIỆM TƯ CÁCH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ (TIẾNG VIỆT)
MẪU – ĐƠN XIN TỪ NHIỆM TƯ CÁCH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ (TIẾNG VIỆT) LOGO CỘNG HOÀ...
Mẫu Đơn xin hoãn thi hành án Tiếng Việt
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN...
Hình thức của nhà nước phong kiến trong hệ thống khoa học pháp lý
Hình thức của nhà nước phong kiến trong hệ thống khoa học pháp lý Hình thức chính thể của...
Luật Nuôi con nuôi 2010 613: Điều kiện và thủ tục nhận con nuôi
Việc tìm hiểu về Luật Nuôi con nuôi 2010 613: Điều kiện và thủ tục nhận con nuôi là...